Thursday, 09/12/2021 - 05:38|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Phú Lạc

Thiết kế và sử dụng đồ dùng thí nghiệm có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong bộ môn Vật lí THCS

Vật lí là cơ sở của nhiều ngành kĩ thuật quan trọng, sự phát triển của khoa học Vật lí gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại trực tiếp với sự phát triển của khoa học công nghệ. Môn Vật lí ở trường phổ thông đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành kiến thức Vật lí cơ bản ở học sinh. Nhiệm vụ quan trọng cấp bách hàng đầu của các trường học hiện nay là việc tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Riêng với môn Vật lí làm thế nào để phát huy tính tích cực trong học tập và việc sử dụng đồ dùng dạy học đạt hiệu quả cao thì không thể thiếu một khâu rất quan trọng, đó là việc giáo viên phải có kĩ năng làm và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản rẻ tiền phục vụ cho việc giảng dạy của mình.

          Các hiện tượng và quá trình Vật lí được đề cập trong sách giáo khoa Vật lí THCS thường rất gần gũi với chúng ta và luôn xảy ra trong đời sống hàng ngày xung quanh chúng ta. Vì thế để tái tạo hoặc kiểm chứng lại chúng không cần đòi hỏi phải có những dụng cụ phức tạp tinh vi. Trái lại, với những dụng cụ đơn giản dễ kiếm, những dụng cụ được dùng trong đời sống hàng ngày, chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra  những thí nghiệm có sức thuyết phục cao đối với học sinh. Trên cơ sở đồ dùng dạy học mặc dù đã được trang bị nhưng vẫn chưa đủ và do quá trình sử dụng bị hư hỏng, thất thoát nên việc tự trang bị cho mình những đồ dùng dạy học là rất cần thiết mà mỗi giáo viên cần có kế hoạch ngay từ đầu năm học.

              Đối với việc giảng dạy môn Vật lý thì việc sử dụng đồ dùng dạy học là một việc không thể thiếu được trong quá trình dạy học bởi vì đặc thù của môn Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm, các tri thức khoa học được rút ra từ việc quan sát các hiện tượng , thu thập thông tin và làm thí nghiệm để khẳng định sự đúng đắn của tri thức khoa học. Muốn vậy thì các giáo viên phải khai thác triệt để có kỹ năng sử dụng có hiệu quả các đồ dùng dạy học hiện có và phải luôn năng động, sáng tạo, làm thêm các thiết bị cần thiết chưa có để bài giảng thêm phong phú sinh động, cuốn hút gây hứng thú đạt hiệu quả cao về chất lượng, đảm bảo về nội dung chương trình mục tiêu giáo dục .Mặt khác các em sẽ có hứng thú tinh thần học bài, tìm thấy cái lí thú, cái hay trong môn học, không cảm thấy khô cứng, khó hiểu nữa. Từ đó tạo niềm say mê học tập, đồng thời nó làm cho các em nhận thức đúng đắn hơn và phát huy tối đa khả năng tự học, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức vào cuộc sống.

 

          Dựa trên những kiến thức đã học, các em học sinh hoàn toàn có thể tự chế tạo những dụng cụ thí nghiệm Vật lí mà không cần tốn nhiều công sức và kĩ thuật cao giúp các em ghi nhớ bài học một cách dễ dàng hơn. Mặt khác rèn luyện và phát triển cho học sinh kĩ năng tư duy độc lập, tìm tòi kiến thức, thực hành thí nghiệm, hình thành tác phong nghiên cứu khoa học ngay từ những buổi đầu đến trường đồng thời hình thành cho các em lòng tin vào kiến thức khoa học, sự say mê hứng thú môn học, đòng thời hình thành và phát triển năng khiếu cá nhân.

          Xuất phát từ những lí do trên, tôi xin đưa ra sang kiến: “Thiết kế và sử dụng đồ dùng thí nghiệm có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong bộ môn Vật lí THCS”

4.2. Cơ sở thực tiễn

4.2.1.  Thực trạng việc sử dụng đồ dùng thí nghiệm để dạy học Vật lí THCS hiện nay:

* Đối với giáo viên:

Giáo viên thực hiện đầy đủ các thí nghiệm theo yêu cầu của sách giáo khoa, sách giáo viên hướng dẫn, tận dụng tối đa tính năng của từng dụng cụ, cụ thể như sau:

-  Một số thí nghiệm trong chương trình Vật lý 7 cần sử dụng nguồn điện là pin, để khỏi phải tốn chi phí, tôi sử dụng bộ biến thế nguồn của Vật lý 9.

- Sử dụng nam châm thẳng, nam châm điện của Vật lý 9 áp dụng cho Vật lý 7.

- Bộ lắp nguồn điện là pin của Vật lý 9 sử dụng chung cho Vật lý 7. . .Tóm lại, dụng cụ thí nghiệm ở chương điện học lớp 7 được thay thế hoặc sử dụng chung thí nghiệm phần điện Vật lý lớp 9.

 Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng dụng cụ thí nghiệm Vật lý giáo viên thường gặp một số  trường hợp khó khăn như sau:

- Dụng cụ bị hỏng nhiều nên một số thí nghiệm không đủ dụng cụ thí nghiệm cho nhiều nhóm.

- Dụng cụ tương đối đầy đủ nhưng chất lượng không được cao nên thí nghiệm cho kết quả thường thiếu chính xác.

- Một số đồ dùng thí nghiệm được cấp về lại không khớp hình vẽ sách giáo khoa làm cho việc lắp ráp thí nghiệm gặp khó khăn.

- Một số thí nghiệm nếu mà trình bày theo hình vẽ trong sách giáo khoa thì sẽ khó đưa ra kết quả mong muốn.

- Phong trào tự làm đồ dùng dạy học thì diễn ra thường xuyên, định kì nhưng chất lượng đồ dùng thì lại không cao, thời gian sử dụng ngắn.

*  Đối với học sinh:

- Một số dụng cụ thí nghiệm phức tạp, học sinh không biết cách sử dụng, ngại bị hư hỏng hoặc bị lúng túng trong quá trình sử dụng các dụng cụ thí nghiệm thực hành.

- Tình trạng chung hiện nay là học sinh thụ động nên ý thức về việc sử dụng dụng cụ thí nghiệm trong tiết học còn xem nhẹ.

- Học sinh chưa tích cực, không chịu khó nghiên cứu trước nội dung của bài mới nên chưa tự mình làm thí nghiệm được để rút ra kiến thức. Do đó kết quả chất lượng giờ học Vật lý thật sự chưa mang lại hiệu quả cao.

4.2.2. Sự cần thiết của đề tài:

Đồ dùng dạy học là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giờ dạy, việc sử dụng đồ dùng dạy học không chỉ nhằm minh hoạ cho bài giảng mà còn thúc đẩy quá trình nhận thức của học sinh phát triển tư duy sáng tạo và kỹ năng thực hành cho học sinh. Nếu sử dụng dụng cụ thí nghiệm thực hành một cách tuỳ tiện, chưa có sự chuẩn bị chu đáo thì hiệu quả học tập của các em không cao có khi còn phản tác dụng, giáo viên mất thời gian vô ích, học sinh học tập mệt mỏi căng thẳng.

           Từ những thực trạng trên và cùng với vai trò đặc biệt của thí nghiệm Vật lý, tôi thấy trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, việc khai thác làm và sử dụng những đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ riền có một ý nghĩa rất quan trọng. Tôi thiết nghĩ phải thay đổi phương pháp dạy học mà trước hết là bản thân mỗi giáo viên hãy tự thay đổi suy nghĩ của chính mình, cần năng nổ tích cực hơn trong việc làm và sử dụng các đồ dùng dạy học đơn giản tự phục vụ cho việcgiảng dạy của bản thân nhằm nâng cao chất lượng dạy và học và tạo hứng thú học tập, rèn luyện phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.

4.3. Các  biện pháp để giải quyết vấn đề:

 Để giúp học sinh hứng thú học tập môn Vật lý thông qua việc giáo viên tự tạo dụng cụ thí nghiệm đơn giản rẻ tiền, giáo viên phải nhận thức đúng đắn về vai trò của thí nghiệm tự tạo này, nhận thấy những ưu điểm cũng như những hạn chế của thí nghiệm dạng này. Do đó vấn đề đặt ra là:

- Giáo viên phải nắm được ưu điểm, hạn chế và yêu cầu của đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền.

- Đề ra một số giải pháp làm và sử dụng đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền vào một số bài học cụ thể trong các tiết dạy.

- Lựa chọn những thí nghiệm đơn giản mang tính giải trí gây hứng thú cao đối với học sinh, những thí nghiệm này cá nhân học sinh hoặc nhóm có thể tự làm sau một nội dung kiến thức nào đó của chương trình.

          Muốn thiết kế được những đồ dùng thí nghiệm như vậy , thì giáo viên trước hết phải hiểu rõ những ưu điểm và hạn chế của đồ dùng thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền. Từ đó mới xác định được yêu cầu của đồ dùng thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền.

* Ưu điểm:

- Dụng cụ cần cho thí nghiệm là những dụng cụ đơn giản, dễ kiếm trong đời sống hàng ngày, có thể kiếm ở mọi nơi. Đó có thể là những lon bia, lon nước ngọt hoặc chai nước khoáng đã dùng, ống nhựa, hoặc có thể là những đồ chơi của trẻ con, như xe nhựa, búp bê nhựa, quả bóng bay …

- Dễ thao tác và dễ thành công, vì những thí nghiệm này do chính giáo viên tự thiết kế, chế tạo và khai thác để sử dụng trong giảng dạy.

 - Thí nghiệm cho kết quả rõ ràng, thuyết phục (thường là những thí nghiệm gắn với những hiện tượng vật lý trong đời sống hàng ngày).

 -  Đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền không đòi hỏi ở người sử dụng những kỹ năng thực hành đặc biệt, nên giáo viên nào cũng có thể tiến hành được. Trái lại, khi sử dụng các thí nghiệm hiện đại, giáo viên phải biết cách sử dụng các dụng cụ, máy móc, thiết bị, phải có những kỹ năng thực hành nhất định mới có thể tiến hành được những thí nghiệm này. Nếu giáo viên không có kỹ năng sử dụng máy tính, không nắm được các phần mềm sử dụng trong thí nghiệm thì không thể tiến hành được những thí nghiệm có sử dụng máy tính, hay những thí nghiệm hiện đại khác.

- Đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền không đòi hỏi khắt khe các điều kiện cơ sở vật chất  như phòng bộ môn, mạng điện, thiết bị nên ở đâu cũng có thể tiến hành thí nghiệm được.

          - Hiện tượng và kết quả thí nghiệm có sức hấp dẫn lôi cuốn, vì vậy nó có tác dụng kích thích hứng thú học tập của học sinh.

          -  Đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ riền là những dụng cụ thí nghiệm ngắn gọn, mất ít thời gian nên có thể sử dụng rất thuận tiện trong quá trình dạy học. Đặc biệt trong khâu mở bài hay củng cố bài, sử dụng để tạo tình huống học tập rất có hiệu quả.

          * Hạn chế: Hầu hết các đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền là những dụng cụ thí nghiệm định tính, ít có thí nghiệm định lượng, dụng cụ thí nghiệm không bền thường sử dụng một lần, việc  tái tạo lại dụng cụ sau không hiệu quả, tính thẩm mĩ không cao.

          * Yêu cầu của đồ dùng thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền:

            Đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền được tiến hành với những dụng cụ đơn giản tự tạo, tự kiếm (như lon bia, chai nước khoáng đã dùng....). Do vậy, ngoài những yêu cầu chung, khi khai thác làm và sử dụng đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền cần đặc biệt chú ý các yêu cầu sau:

- Phải đảm bảo tính khoa học: Kết quả rõ ràng, chính xác và thuyết phục.

-  Phải đảm bảo tính sư phạm: Các thí nghiệm không được phản giáo dục. Ví dụ: không nên làm những dụng cụ thí nghiệm có liên quan đến súng, đạn, cung, nỏ...

- Phải đảm bảo tính thẩm mĩ: Do các dụng cụ của thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền là những dụng cụ tận dụng, tự kiếm, tự tạo. Vì vậy yếu tố thẩm mĩ phải được đặc biệt coi trọng và phải đặt lên hàng đầu. Những dụng cụ thí nghiệm tận dụng, tự kiếm phải được gia công chu đáo, cẩn thận để làm tăng tính thẩm mĩ của nó.

- Phải đảm bảo tính khả thi: Các thí nghiệm được sử dụng phải là những thí nghiệm dễ thao tác, dễ tiến hành và cho kết quả thuyết phục.

           Sau khi đã tìm hiểu rõ các ưu điểm và hạn chế, yêu cầu của đồ dùng thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền, tôi xin đưa ra một số biện pháp thiết kế và sử dụng đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền vào một số bài học cụ thể trong các tiết dạy như sau:

4.3.1. Ví dụ 1:

Khi dạy bài 21: “Nam châm vĩnh cửu” – phần Điện từ học Vật lí 9.  Ở thí nghiệm của phần II: “Tương tác giữa hai nam châm”, nếu mà trình bày thí nghiệm như hình 21.3 SGK(59) đó là dùng thanh nam châm thẳng đưa lại gần kim nam châm thì rất khó đưa ra kết quả mong muốn bởi vì bản chất kim nam châm rất nhẹ nên khi đưa một cực của thanh nam châm thẳng lại gần kim nam châm sẽ khó nhận thấy sự tương tác ( hút hoặc đẩy) của kim và thanh nam châm. Để khắc phục tình trạng này tôi sẽ dùng hai thanh nam châm thẳng và thiết kế thêm một đế hình trụ bằng gỗ (cao tầm khoảng 10cm, đường kính hai đáy khoảng từ 3-5cm) rồi sau đó đặt một trong hai thanh nam châm thẳng lên đế gỗ tiến hành làm thí nghiệm. Khi đó sự tương tác giữa hai thanh nam châm (hút hoặc đẩy) thể hiện rất rõ, tất cả học sinh dưới lớp có thể quan sát được rõ ràng hiện tượng này.

Hình ảnh minh họa:

 

 

 

(Khối gỗ hình trụ)

 

 

 

(Tương tác giữa hai nam châm trong trường hợp khác cực)

 

 

 

(Tương tác giữa hai nam châm trong trường hợp cùng cực)

 

4.3.2. Ví dụ 2:  Vật lý 7 bài 23 “ Tác dụng từ, tác dụng hóa học và tác dụng sinh lí của dòng điện”

Giáo viên có thể tiến hành chế tạo nam châm điện như sau:

a. Dụng cụ:

- 1 cái đinh sắt dài 10 cm.

- 1 lớp dây đồng nhỏ có lớp cách điện.

- 1 pin tiểu loại 1,5vôn.

- Một số ít đinh ghim bằng sắt.

b.  Chuẩn bị dụng cụ:

- Bọc lên đinh sắt một lớp giấy

- Quấn dây đồng lên đinh sắt khoảng 30 đến 40 vòng.

c. Tiến hành:

- Nối nguồn điện với hai đầu cuộn dây và đưa một đầu đinh lại gần các đinh ghim rồi tiến hành quan sát có hiện tượng gì xảy ra với các đinh ghim?

 

(Hình ảnh minh họa)

* Kết quả: Các đinh ghim bị hút lại gần một đầu của đinh sắt. Khi đó đinh sắt được quấn bên ngoài một lớp đồng trở thành nam châm điện.

4.3.3. Ví dụ 3:  Vật lý 8 bài 9 “Áp suất khí quyển

 ( thí nghiệm dùng mở bài tạo hứng thú học tâp)

a. Dụng cụ:

- 1 quả trứng.

- 1 chai thủy tinh (bình thí nghiệm hình tam giác)

- 1 bật lửa

- Một ít bông.

- Một ít cồn.

b. Chuẩn bị dụng cụ: Gia công trứng:

- Luộc trứng lòng đào và bóc vỏ hoặc ngâm trứng vào dấm ăn cho đến khi phần vỏ trứng mất đi.

- Chọn chai thủy tinh: Chọn chai có đường kính miệng chai nhỏ hơn một chút so với đường kính quả trứng.

 

c. Tiến hành:

- Tẩm cồn vào bông, dùng bật lửa ga đốt rồi thả vào chai. Đợi cho bông cháy một lúc, sau đó ta bỏ quả trứng vào miệng chai (cho đầu nhỏ xuống dưới).

- Yêu cầu học sinh quan sát hiện tượng và giải thích.

Kết quả: Quả trứng sẽ chui vào được trong chai. Nguyên nhân là khi đặt một nguồn nhiệt vào bên trong miệng chai, các phân tử không khí di chuyển hỗn loạn và có xu hướng tách nhau ra. Hơn nữa, nguồn nhiệt tăng lên sẽ đẩy áp suất trong chai lên cao, và luồng không khí sẽ di chuyển ra ngoài. Tuy nhiên khi đặt quả trứng vào miệng chai, không khí lúc này sẽ bị chặn lại. Oxy trong bình thì có hạn, nên lửa sẽ tắt. Việc lửa tắt sẽ kéo theo nhiệt độ hạ xuống, áp suất giảm, và cuối cùng quả trứng bị hút tụt vào trong

4.3.4. Ví dụ 4: Vật lý 8 bài 8 “ Áp suất chất lỏng  - Bình thông nhau

Thí nghiệm:: Áp suất chất lỏng phụ thuộc độ sâu.

a. Dụng cụ:

- 1 chai nước khoáng nhựa lớn.

- 1 khay nước.

- 1 ca nước màu.

- 1 cái phễu.

b. Chuẩn bị dụng cụ:

- Dùi 3 lỗ nhỏ trên thành chai ở các độ cao khác nhau.

- Dùng ca nhựa rót nước màu vào chai (trước khi rót dùng băng keo dán kính lỗ).

c. Tiến hành:

- Gỡ băng keo từ các lỗ cho nước chảy ra.

- Yêu cầu học sinh quan sát và rút ra kết luận.

Kết quả: Nước màu chảy ra ở các lỗ không như nhau. Nước chảy ra mạnh nhất ở lỗ có độ cao thấp nhất. Chứng tỏ áp suất chất longr phụ thuộc vào độ sâu.

4.3.5. Ví dụ 5: Vật lý 6 bài 19 “Sự nở vì nhiệt của chất lỏng

4.3.5. Ví dụ 5: Vật lý 6 bài 19 “Sự nở vì nhiệt của chất lỏng

a. Dụng cụ:

- 1 vỏ chai đựng cồn hoặc oxi già.

- 1 ruột bút bi chữ A đã dùng, mực còn khoảng 5mm.

b. Chuẩn bị dụng cụ:

- Tháo viên bi ở đầu ruột bút.

- Cắm đầu ruột bút vào miệng chai đựng, ta được dụng cụ như hình vẽ.

c. Tiến hành:

- Xoa 2 tay vào nhau, sau đó áp nhẹ vào chai.

- Quan sát hiện tượng và nhận xét.

- Sau đó bỏ tay ra, quan sát hiện tượng và nhận xét.

Nhận xét: Khi áp nhẹ tay vào chai thì mực trong ruột bút đi lên, chứng tỏ không khí trong chai bị dãn nở ra, làm thể tích không khí trong bình tăng lên. Khi bỏ tay ra khỏi chai, thì mực trong ruột bút lại đi xuống, chứng tỏ không khí trong chai bị co lại, khi đó thể tích không khí trong bình giảm đi.

Chúng ta có thể lựa chọn những thí nghiệm đơn giản mang tính giải trí gây hứng thú cao đối với học sinh, những thí nghiệm này cá nhân học sinh hoặc nhóm có thể tự làm sau một nội dung kiến thức nào đó của chương trình (Như ở ví dụ 6 ,7,8  dưới đây)

4.3.6: Ví dụ 6:

          Khi học bài “Môi trường truyền âm”  trong chương trình Vật lý 7, phần Âm học giáo viên giới thiệu cho học sinh cách chế tạo “CHIẾC ĐIỆN THOẠI ĐỒ CHƠI ”

a/ Dụng cụ :

- 02 cái lon sữa bò đã sử dụng hết sữa.

- 01 đoạn dây dài khoảng 5m – 10m.

- 02 chốt cài.

b/ Chuẩn bị dụng cụ:

- Đục một lỗ nhỏ sau mỗi lon.

- Nối hai lon với nhau bằng đoạn dây và hai chốt cài (như hình dưới)

c/ Tiến hành:

- Mỗi học sinh giữ một lon và căng cho dây thẳng ra (lưu ý không cho vật gì chạm phải dây).

- Học sinh 1 nói ở lon 1 (ống 1), học sinh 2 đặt tai nghe ở lon 2

( ống 2).Yêu cầu học sinh lắng nghe và giải thích.

 

Giải thích: Khi học sinh 1 nói ở ống 1 thì học sinh 2 đặt tai nghe ở ống 2 sẽ nghe thấy âm mà học sinh 1 phát ra. Chứng tỏ âm truyền được qua dây nối (tức là qua môi trường chất rắn).

4.3.7. Ví dụ 7:

    Sau khi học bài: ”Dòng điện - nguồn điện”  trong chương trình Vật lý 7, phần Điện học giáo viên giới thiệu cho học sinh cách chế tạo “CHIẾC PIN BẰNG TRÁI CÂY”

a/ Dụng cụ :

- 01 quả chanh hoặc quả cà chua hoặc quả xoài.

- 01 mảnh đồng.

- 01 mảnh kẽm (hoặc tôn)

- 01 bóng đèn LED (hoặc một đồng hồ đo điện đa năng)

b/ Chuẩn bị dụng cụ:

- Cấm hai mảnh đồng và kẽm vào quả chanh hoặc quả cà chua hoặc quả xoài như hình dưới.

- Một bóng đèn LED (hoặc một đồng hồ đo điện đa năng) đã nối sẵn hai đầu dây dẫn.

c/ Tiến hành:

- Nối hai đầu dây dẫn có đèn LED (hoặc một đồng hồ đo điện đa năng) vào hai mảnh đồng và kẽm. Yêu cầu học sinh quan sát hiện tượng và nhận xét. 

 

Nhận xét: Khi nối đầu dây dẫn có đèn LED hoặc một đồng hồ đo điện đa năng vào hai mảng đồng và kẽm thì đèn LED sẽ sáng hoặc kim đồng hồ đo điện đa năng chỉ giá trị khác 0. Chứng tỏ quả chanh (hoặc quả cà chua, quả xoài) là một nguồn điện.

4.3.8.Ví dụ 8: Khi học bài “Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng” trong chương trình Vật lý 7, phần Quang học giáo viên giới thiệu cho học sinh cách chế tạo “CHIẾC ĐỒNG HỒ MẶT TRỜI"

a/ Dụng cụ :

              - 01 cái chậu.

              - 01 đoạn gỗ dài .

b/ Chuẩn bị dụng cụ:

              - Lấy đoạn gỗ dài cắm vào lỗ tròn bên dưới đáy chậu.

              - Đặt chậu ở nơi lúc nào cũng có ánh nắng chiếu vào (như hình dưới)

(Hình ảnh minh hoạ)

c/ Tiến hành:

              - Cứ mỗi giờ đồng hồ thì hãy đánh dấu vào vị trí cái bóng của đoạn gỗ trên thành chậu.

              - Sau khi hoàn chỉnh, chỉ cần có nắng thì chúng ta có thể biết được thời gian như đồng hồ thông qua bóng của đoạn gỗ. Sau đây là một chiếc đồng hồ hoạt động tương tự như thế (có thể giới thiệu với học sinh)

 

 

          Ta cũng có thể sử dụng các dụng cụ thí nghiệm có sẵn một cách linh hoạt, gộp nhiều bước thí nghiệm vào một bước để cho quá trình làm thí nghiệm được diễn ra nhanh hơn, tiết kiệm được thời gian mà vẫn đảm bảo tính chính xác, khoa học, như ví dụ 9 dưới đây.

4.3.9. Ví dụ 9:

           Khi dạy bài 27 và 28 Vật lí 7: “Thực hành: Đo cường đọ dòng điện và hiệu điện thế đối với đoạn mạch nối tiếp”  và “Thực hành: Đo cường đọ dòng điện và hiệu điện thế đối với đoạn mạch song song”. Đối với mỗi thí nghiệm thay vì phải đo cường độ dòng điện và hiệu điện thế 3 lần ở ba vị trí khác nhau thì giáo viên có thể hướng dẫn học sinh mắc đồng thời 3 ampe kế hoặc 3 vôn kế ở 3 vị trí rồi tiến hành đo trong một lần. Khi đó có thể nhận xét được luôn mối quan hệ của cường độ dòng điện và hiệu điện thế giữa đoạn mạch chính và đoạn mạch rẽ.

Hình ảnh minh họa:

( Mắc vôn kế để đo hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch và hiệu điện của mỗi đèn khi hai bóng đèn được mắc nối tiếp).

 

( Mắc ampe kế để đo cường độ dòng điện mạch chính và mạch rẽ khi hai đèn được mắc song song).

 

4.3.10.Ví dụ 10: Vật lý 7 bài 2 “ Sự truyền ánh sáng”

            Giáo viên có thể làm thí nghiệm chứng tỏ đường truyền của ánh sáng trong không khí là một đường thẳng như sau:

a. Dụng cụ:

      + 3 tấm bìa cứng khoảng 20x30 cm

       +  1 cây nến

    b. Chuẩn bị dụng cụ

             Đục các lỗ nhỏ trên 3 tấm bìa (sao cho các lỗ nhỏ có cùng kích thước, cùng độ cao và cách đều hai cạnh bên) và kẻ đường thẳng vuông góc từ các lỗ xuống cạnh đáy.

    c. Tiến hành:

            Đặt ba tấm bìa lên giá nằm ngang sao cho ba lỗ thẳng hàng. Đặt ngọn nến đang cháy về một phía và đặt mắt để quan sát phía đối diện.

(Hinhf anhr minh hoạ)

4.3.11.Ví dụ 11: Vật lý 8 bài 12 “Sự nổi”

 (Thí nghiệm mở bài hoặc kiểm chứng, hoặc thay thí nghiệm SGK)

       a. Dụng cụ:

 + 3 cốc thủy tinh chứa 2/3 nước.

 + 3 quả chanh.

 + một ít muối ăn.

       b. Tiến hành:

 + Cho 3 quả chanh vào 3 cốc nước cho học sinh quan sát và nhận xét.

 + Cho một ít muối vào một trong 3 cốc, khuấy đều cho đến khi quả chanh nổi lơ lửng.

 + Cho một ít muối vào  một trong 2 cốc còn lại và khuấy đều, vừa khuấy vừa thêm muối cho đến khi quả chanh nổi hẳn.

  Giáo viên cho học sinh quan sát trạng thái của 3 quả chanh ở trong 3 cốc. Từ đó cho học sinh phân tích lực tác dụng lên từng quả chanh để đi đến kết luận về điều kiện của vật chìm , vật nổi và vật lơ lửng.

 

4.4. Kết quả đạt được:

          Sau khi tôi áp dụng một số thiết kế và sử dụng thí nghiệm trong Vật lí THCS  năm học 2020-2021 thì thu được kết quả như sau:

 Chất lượng bộ môn Vật lý  từng bước có tiến bộ, qua mỗi thời điểm kiểm tra số học sinh giỏi, khá tăng lên, còn số học sinh yếu giảm dần. Cụ thể trong năm học 2020-2021 tôi được phân công dạy bộ môn Vật lí lớp 7A3, trường THCS Phú Lạc, khi so sánh chất lượng bộ môn đầu năm học và cuối năm học tôi lập được bảng sau:

Lóp

Tổng số

Đầu năm học

Cuối năm học

Giỏi

Khá

TB

Yếu

Giỏi

Khá

TB

Yếu

7A3

33

2

10

18

3

6

17

10

0

5. Những thông tin cần được bảo mật:

6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

 Đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền có ưu điểm là rất đơn giản, tiện lợi, dễ tiến hành và cho kết quả thuyết phục, do đó có tác dụng tốt trong việc gây hứng thú học tập cho học sinh. Nhờ những ưu điểm nổi trội trên, nên việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền thực sự phát huy tác dụng đối với những nơi, những vùng đang khó khăn về cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm. Khi vận dụng giải pháp:

-  Đối với giáo viên:  Phải phát huy tính sáng tạo, rèn luyện kĩ năng nghiên cứu khoa học, kĩ năng thực hành thí nghiệm, giải quyết một phần thiếu dụng cụ như hiện nay, ngày càng tâm quyết với nghề.

-  Đối với học sinh:  Phải có sự chuyển biến đáng kể: yêu thích môn học hơn, phát huy tính tò mò khám phá của học sinh, thấy được sự cần thiết tất yếu của bộ môn, chất lượng bộ môn có chuyển biến rõ rệt, yêu thích khoa học, nắm vững kiến thức, càng tin vào sự đúng đắn của kiến thức.

7. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:

- Về học sinh: Học sinh yêu thích môn học hơn, thích nghiên cứu, tìm tòi khám phá những hiện tượng Vật lý. Mặt khác các em nắm được kiến thức một cách sâu sắc vững chắc hơn và chú ý bài nhiều hơn, quan tâm nhiều đến các thí nghiệm (thí nghiệm do giáo viên tự sáng tạo), những học sinh khá giỏi đề xuất phương án khác sách giáo khoa góp phần tiết học sinh động hẳn lên

- Về giáo viên: Giáo viên tự tin hơn, vững vàng hơn trong việc chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản rẻ tiền, thực hành thí nghiệm nhanh hơn không còn e ngại đối với những tiết học thực hành nên thu hút được tất cả các đối tượng học sinh hứng thú tham gia thực hành thí nghiệm Vật lý.

Tuy nhiên trong quá trình thực hành các dụng cụ thí nghiệm đơn giản rẻ tiền, tôi nhận thấy có những mặt áp dụng được và chưa được như sau:

- Mặt áp dụng:  Bước đầu học sinh rèn luyện kĩ năng vận dụng những dụng cụ đơn giản xung quanh mình chế tạo ra các đồ chơi hay những thí nghiệm kiểm chứng kiến thức đã học tạo được sự say mê học tập môn Vật lý.

- Mặt chưa áp dụng: Do hạn chế của loại thí nghiệm này là không bền, không đẹp như những dụng cụ có sẵn trong chương trình nên sau khi tôi hướng dẫn các em làm các thí nghiệm ở nhà, kết quả các em làm được các thí nghiệm theo yêu cầu của giáo viên không cao, do chưa có kĩ năng, không thực hành thường xuyên và chưa có sự hỗ trợ của nhóm bạn.

8. Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu.

          Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

 

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 6
Hôm qua : 67
Tháng 12 : 359
Năm 2021 : 14.502