Thursday, 09/12/2021 - 05:56|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Phú Lạc

Biện pháp tránh những sai sót khi giải bài toán về lũy thừa của một số hữu tỉ

 Với quyết tâm yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học của thầy và trò. Đảm bảo hướng dẫn và tích cực hóa hoạt động dạy và học, tạo sự chuyển biến thực sự về mặt kiến thức và kĩ năng của chương trình học của bộ môn Toán, nhằm phát huy tính tích cực chủ động học tập của học sinh. Giúp các em yêu thích môn học và học tập tiến bộ hơn, tạo cơ sở vững chắc cho các em tiếp tuc học tốt môn Toán. Giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, đáp ứng yêu cầu phát triển Giáo dục và Đào tạo trong tình hình mới. Trong toán học, “ Toán lũy thừa” là một mảng kiến thức khá lớn, chứa đựng rất nhiều những kiến thức hay và khó. Để làm được các bài toán về lũy thừa không phải là việc dễ dàng kể cả đối với học sinh khá và giỏi, nhất là đối với học sinh lớp 6, lớp 7. Các em mới được làm quen với môn Đại số và mới được tiếp cận với Toán lũy thừa nên chưa có công cụ phổ biến đê thực hiện các phép biến đổi đại số, ít phương pháp, kĩ năng tính toán… Để học tpts bộ môn Toán nói chung và “ Toán lũy thừa” nói riêng, điều quan trọng là luôn biết rèn nêp suy nghĩ qua việc học lí thuyết, qua việc giải từng bài tập… qua suy nghĩ tìm tòi lời giải. Đứng trước một bài Toán khó, chưa tìm ra cách giải, học sinh thực sự lúng túng, hoang mang và rất có thể sẽ bỏ qua bài Toán đó, nhưng nếu có được sự giúp đỡ, gợi mở thì các em sẽ không sợ mà còn thích thú khi làm những bài Toán như vậy.

          Do đó, khi dạy một nội dung kiến thức Toán học, giáo viên phải khai thác hết khả năng của học sinh, để làm tiền đề cho việc tiếp thu kiến thức tiếp theo và cứ như thế tiếp diễn trong qua trình học. Muốn làm được việc này giáo viên phải tổ chức cho học sinh tự tìm hiểu kiến thức một cách vững vàng. Điều quan trọng là giúp học sinh tránh những sai sót không cần thiết mà học sinh thường hay mắc phải, cụ thể là khi dạy các kiến thức về lũy thừa của một số hữu tỉ.

         Như vậy, làm thế nào để học sinh lớp 7, học tốt phần luỹ thừa của một số hữu tỉ, học tốt phân môn đại số. Trong quá trình giảng dạy tôi gặp thực tế một số tình huống. Vì thế tôi nghĩ, nếu nêu ra được trước những chỗ sai của học sinh thì chắc chắn học sinh sẽ tránh được những sai sót trong quá trình giải. Để tránh những sai lầm khi giải toán về luỹ thừa, đó là trăn trở của tôi. Chính vì thế qua quá trình dạy học, với những kinh nghiệm của bản thân, tôi  xây dựng “ Biện pháp tránh những sai sót khi giải bài toán về luỹ thừa của một số hữu tỉ”. Đó là lí do mà tôi chọn đê tài  này.

          Bản thân tôi luôn trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán và làm cho các em yêu thích môn học này. Đó là lí do tôi chọn đề tài này.

4. Mô tả bản chất của sáng kiến

4.1. Thực trạng:

 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng:

        * Đối với giáo viên:

           Trong quá trình giảng dạy và dự giờ các đồng nghiệp, tôi nhận thấy một số thực trạng còn tồn tại trong dạy học môn Toán như sau:

 Nhà trường xây dựng chưa đầy đủ thư viện điện tử và sách tham khảo để phục vụ cho việc dạy và học của giáo viên.

Trường nằm ở vị trí không mấy thuận lơi, việc học của học sinh ít được quan tâm và đầu tư nên chất lượng chưa đáp ứng với nhu cầu. Mỗi giáo viên có cách dạy riêng, có nhiều phương pháp khác nhau trong dạy học bộ môn để nâng cao chất lượng bộ môn. Trong quá trình dư giờ đồng nghiệp và dạy học bản thân đã áp dụng một số biện pháp hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng bộ môn.

   * Đối với học sinh:  

Học sinh ở một huyện miền núi, nhiều học sinh ở vùng sâu vùng xa đi lại khó khăn, gia đình hoàn cảnh ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập. Đa số các em học sinh vẫn còn thói quen học vẹt, không nắm sâu được kiến thức, về nhà không học bài, không đọc thêm sách giáo khoa không quan tâm các vấn đề của môn học…

Mặc dù đã cải cách chương trình giảng dạy nhưng vẫn còn một số bài quá dài, kiến thức dàn trải dẫn đến tình trạng “quá tải” kiến thức, đối với cả giáo viên truyền thụ lẫn việc lĩnh hội kiến thức của học sinh. 

          Tôi thấy hầu hết học sinh cứ thấy bài toán liên quan đến lũy thừa là sợ, đăc biệt là lũy thừa với số mũ lớn, số mũ tổng quát. Như đã nói ở trên, học sinh lớp 6, lớp 7 mới được tiếp xúc với toán lũy thừa, trong sách giáo khoa yêu cầu ở mức độ vừa phải, nhẹ nhàng. Chính về thế mà khi giáo viên chỉ cần thay đổi yêu cầu của đề bài là học sinh đã thấy khác lạ, khi nâng cao lên một chút là các e gặp khó khăn chồng chất: làm bằng cách nào? Làm như thế nào?... chứ chưa cần trả lời các câu hỏi: làm thế nào nhanh hơn, ngắn gọn hơn, độc đáo hơn?

4.2. Một số sai sót mà học sinh hay mắc phải :

     Trong đề tài này tôi xin nêu lên một số sai sót phổ biến thường gặp, ở phần lời giải một số bài toán về luỹ thừa đó là:

          - Sai sót do không nắm vững định nghĩa lũy thừa của một số hữu tỉ.

          - Sai sót do không nắm vững cơ số của tích 2 lũy thừa

          - Sai sót do nhầm lẫn công thức lũy thừa của lũy thừa với lũy thừa tầng.

          - Sai sót do không nắm vững qui tắc rút gọn biểu thức.

          - Sai sót do không nắm vững tính chất đặc trưng của cơ số a trong lũy thừa.

          - Sai sót do không xét hết các trường hợp đặc biệt của cơ số a.

       Mỗi sai sót tôi minh hoạ một số ví dụ cụ thể, qua đó phân tích kĩ nguyên nhân sai sót về quá trình biến đổi, kĩ năng tính toán, cũng như cơ sở lý luận, để các em học toán một phần nào đó rút kinh nghiệm, từ đó học sinh sẽ nắm kiến thức một cách vững vàng hơn. Cụ thể  những sai sót như sau :

 4.2.1 Sai sót do không nắm vững định nghĩa luỹ thừa của một số hữu tỉ :

4.2.2 Sai sót do không nắm vững cơ số của tích 2 luỹ thừa :

4.2.3 Sai sót do nhầm lẫn công thức luỹ thừa của luỹ thừa với luỹ thừa tầng

4.2.4 Sai sót do nhầm lẫn giữa hiệu của hai lũy thừa cùng cơ số với tích của 2 luỹ thừa cùng cơ số.

Ví dụ : Rút gọn biểu thức

4.2.5 Sai sót do không nắm vững qui tắc rút gọn biểu thức :

4.2.6 Sai sót do không nắm vững tính chất đặc trưng của cơ số a trong luỹ thừa:

b/ Lời giải đúng :

4.2.7 Sai sót do không xét hết các trường hợp đặc biệt của cơ số a 

 * Để khắc phục những hạn chế và sai lầm học sinh thường mắc phải khi giải các bài tập trên tôi đã đưa ra biện pháp sau :

          Với mỗi dạng bài tập cần cho học sinh tìm hiểu đọc kĩ đầu bài, chỉ ra rõ bài toán đã cho những dữ kiện gì, cho biết yêu cầu của bài toán. Tóm tắt bài toán một cách cô đọng nhất, từ đó phân tích tìm ra các bước giải.

          Đặc biệt khi dạy một công thức về lũy thừa của một số hữu tỉ, giáo viên phải dạy cho học sinh nắm vững công thức và vận dụng tốt công tức vào giải toán, giáo viên phải cho những phản ví dụ, nghĩa là lồng ghép những lời giải sai, cho học sinh nhận xét đúng, sai, sau đó giáo viên chốt lại. Ở mỗi bài dạy giáo viên cần xác định trọng tâm của bài, nội dung kiến thức cần nắm là gì, rèn luyện thao tác kĩ năng, dự kiến tình huống cho các đối tượng.

Bản thân tôi đã chú trọng  nhất là biện pháp sau: Tôi đã nêu ra các dạng sai sót của học sinh dưới dạng thiết kế phiếu kiểm tra hoặc phiếu học tập vào các giờ bài tập. Mỗi phiếu kiểm tra hoặc phiếu học tập có ghi sẵn phần giải của học sinh. Có thể phát phiếu kiểm tra hoặc phiếu học tập đã chuẩn bị sẵn cho một số học sinh hoặc cả lớp theo cùng một trình độ hoặc theo các trình độ khác nhau tùy từng tiết học. (Nhóm giỏi, nhóm khá, nhóm trung bình)

Với học sinh đạt trình độ trung bình yếu, có thể thực hiện: Tìm chỗ sai trong bài giải, với nội dung bài đơn giản hơn.

          Với học sinh đạt trình độ khá, có thể thực hiện:  Hãy nhận xét cách giải, với nội dung bài khó hơn .

          Với học sinh đạt trình độ giỏi, có thể thực hiện: Tìm cách giải khác của bài toán trên. Hoặc bài giải trên có chỗ nào giải sai không (nếu có). Hãy chỉ ra nguyên nhân sai sót đó? với nội dung bài nâng cao lên.

          Học sinh làm bài trong khoảng 10 phút hoặc 15 phút rồi nộp bài lại cho giáo viên đánh giá hoặc các học sinh đánh giá chéo cho điểm theo hướng dẫn của giáo viên .

          Qua đó các em tự rút ra được kinh nghiệm cho mình khi gặp những dạng như thế và một phần nào tránh được những sai sót phổ biến cũng giúp cho các em càng vững chắc hơn về các kiến thức của luỹ thừa của một số hữu tỉ.

Tạo cho học sinh tự nghiên cứu tìm tòi lời giải đúng, để học sinh được hưởng niềm vui khi tự mình tìm ra chìa khóa của bài toán.

 Bên cạnh đó tôi còn áp dụng cho bản thân những giải pháp sau:

* Làm công tác tư tưởng đối với học sinh:

         Phân tích để các em thấy rằng môn học nào cũng rất quan trọng. Tại sao Toán học lại quan trọng bởi vì Toán học vừa là một phương tiện bồi dưỡng kiến thức, vừa có tác dụng giáo dục trí tuệ của con người. Tri thức lịch sử Toán học là một bộ phận quan trọng nhất của nền văn minh nhân loại, không hiểu biết Toán học thì không thể xem là người có văn hóa toàn diện, sâu sắc và không thể xem là con người hoàn thiện, đầy đủ. Chính vì vậy vai trò, tác dụng và ý nghĩa của Toán học là vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong công tác dạy và học ở trường THCS.

* Giáo viên luôn có thái độ tôn trọng và nghiêm túc trong giờ giảng dạy

Theo tôi bản thân giáo viên giảng dạy toán học phải luôn coi trọng bộ môn này, tự tin trước học sinh, say sưa và tâm huyết với bộ môn, đầu tư thời gian công sức cho nó.  Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy, tiết học nào mà giáo viên chuẩn bị chu đáo về nội dung và đồ dùng dạy học, kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp khác nhau, cùng với lời giảng sinh động hấp dẫn của giáo viên thì học sinh rất hứng thú, say mê nghe giảng, hăng hái phát biểu xây dựng bài và hiểu sâu kiến thức.

Giáo viên giao cho học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà, tìm hiểu bài, nội dung liên quan đến bài học, coi đó như một môn học quan trọng và cần thiết... có như vậy khi nghe lời cô giảng học sinh mới thấy hay, hứng thú với giờ học và hiểu bài.

Khi giảng cho học sinh nghe, giáo viên phải diễn đạt một cách ngắn gon, dễ hiểu, những công thức, vận dụng các phương pháp dạy học linh hoạt hiệu quả trong từng bài giảng, sẽ giúp học sinh hiểu tường tận những kiến thức, từ đó các em sẽ yêu thích bộ môn một cách tự nhiên không mang tính gò ép.

*  Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy

Thay vì tiếp thu tri thức qua bài giảng của giáo viên bằng hình thức Cô dạy – trò nghe – trò viết thì giáo viên nên sử dụng phần mềm hỗ trợ đối với các hiệu ứng trình chiếu. Toán học THCS chủ yếu tập chung vào các thế loại như: bài dạy hình thành khái niệm và vận dụng khái niệm, bài dạy luyện các quy tắc toán học... Với từng thể loại bài dạy; vơi sự kết hợp khéo léo và sáng tạo giáo viên có thể ứng dụng CNTT vào tất cả các khâu trong quá trình dạy học.

Tuy nhiên, giáo viên không vì thế mà lạm dụng làm ảnh hưởng tới tiết học, dẫn tới  không thể làm cho học sinh khắc sâu kiến thức. Nếu sử dụng tốt sẽ hấp dẫn được học sinh, giúp học sinh hiểu hơn bài học, nhưng ngược lại cũng không tránh khỏi sự tò mò của học sinh dẫn tới sao nhãng việc tiếp thu kiến thức.

*  Hướng dẫn học sinh cách tự học

Bên cạnh việc học trên lớp thì việc tự học của học sinh cũng hết sức quan trọng, cần hướng dẫn cho học sinh cách tự học. Giáo viên cần tạo động lực; tạo niềm tin; giao công việc; hướng dẫn học sinh lập kế họach thực hiện và ghi chép lại những kiến thức gặt hái được, kiểm tra kết quả của học sinh. Muốn tạo động lực, trước tiên, giáo viên cần gieo ý thức học bộ môn Toán cho học sinh trong mỗi bài giảng.

Lồng ghép vào các bản chất toán học, nêu lịch sử vấn đề, ứng dụng của toán học trong cuộc sống hoặc các câu chuyện vui về toán học. Đối với học sinh lớp khá, đôi lúc giới thiệu cách nhìn tổng quát, mở rộng, hoặc đi sâu một vấn đề nào đó để học sinh có thể tư duy toán tốt hơn.

Những kỹ năng cần thiết giúp học sinh tự học Toán chú trọng rèn cho học sinh trong các bài giảng như sau:

  •  Lên kế hoạch tự học

+ Kỹ năng lên kế hoạch việc tự học cần tuân thủ các nguyên tắc: Tự vạch kế hoạch; đảm bảo thời gian tự học tương xứng với lượng thông tin của môn học;

+ Xen kẽ hợp lý giữa các hình thức tự học, giữa các môn học, giữa giờ tự học, giờ nghỉ ngơi, thực hiện nghiêm túc kế hoạch tự học như biết cách làm việc độc lập, biết tự kiểm tra.

  • Kỹ năng nghe và ghi bài

+ Quy trình nghe giảng gồm các khâu: Ôn bài cũ, làm quen với bài sắp học, hình dung các câu hỏi đối với bài mới.

+ Khi nghe giảng, cần tập trung theo dõi sự dẫn dắt của cô, liên hệ với kiến thức đang nghe, kiến thức đã có với các câu hỏi đã hình dung trước.

+ Cần lưu ý cách ghi bài khi nghe giảng như: Ghi một cách chọn lọc, sử dụng kí hiệu riêng, ghi cả chính đề lẫn phản đề, đánh dấu những bước quan trọng trong một bài giải (gọi đó là bước chìa khoá).

+ Học sinh cũng cần đánh dấu những chỗ bản thân chưa hiểu rõ để sau đó xem kỹ lại, trao đổi bạn bè hoặc hỏi lại riêng cô; đánh dấu và ghi chép lại các vấn đề quan trọng khi tự đọc tài liệu.

  • Kỹ năng ôn tập

+ Kỹ năng này được chia làm hai nhóm là kỹ năng ôn và kỹ năng tập luyện.

+ Kỹ năng ôn bài là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc chiếm lĩnh kiến thức bài giảng của thầy.

 Đó là hoạt động tái nhận bài giảng như xem lại bài ghi, mối quan hệ giữa các đoạn rời rạc, bổ sung bài ghi bằng các thông tin nghiên cứu được ở các tài liệu khác, nhận diện cấu trúc từng phần và toàn bài.

 Việc tái hiện bài giảng dựa vào những biểu tượng, khái niệm, phán đoán được ghi nhận từ bài giảng của giáo viên, từ hoạt động tái nhận bài giảng, dựng lại bài giảng của giáo viên bằng ngôn ngữ của chính mình, đó là những mối liên hệ logic có thể có cả kiến thức cũ và mới.

Sau mỗi bài học (đặc biệt là sau các giờ học chuyên đề), giáo viên cần học sinh cần tự hệ thống lại các kiến thức và quan trọng theo ý hiểu hoặc theo sơ đồ tư duy càng tốt.

+ Kỹ năng luyện tập có tác dụng trong việc hình thành kỹ năng tương ứng với những tri thức đã học. Từ việc tự giải bài tập, giáo viên có thể gợi ý cho học sinh tự thiết kế những loại bài tập cho mình giải, vận dụng kiến thức vào cuộc sống.

  • Kỹ năng đọc sách

+ Với kỹ năng này, học sinh phải xác định rõ mục đích đọc sách, chọn sách đọc phù hợp như tìm hiểu nội dung tổng quát của quyển sách, đọc thử một vài đoạn, đọc lướt qua nhưng có trọng điểm, đọc kỹ có phân tích, nhận xét, đánh giá. Khi đọc sách cần tập trung chú ý, tích cực suy nghĩ, khi đọc phải ghi chép.

Để hướng dẫn cho học sinh có thể tự học môn toán một cách sáng tạo và hiệu quả nhất, giáo viên cần:

+ Truyền đạt phương pháp giải cho học sinh (kết hợp truyền tải cách tư duy như thế nào để có phương pháp giải đó); Yêu cầu học sinh giải các bài tập tương tự;

+ Yêu cầu học sinh tự ra các đề bài tập có phương pháp giải đó( khi này giáo viên giao công việc cho học sinh theo nhóm và có sự giúp đỡ của thầy cô);

+ Học sinh đến lớp trao đổi các kết quả gặt hái được với các nhóm khác; Giáo viên nhận xét và rút ra kết luận.

Với cách làm như trên, học sinh được tư duy sáng tạo thực sự với các vấn đề toán học cụ thể và được thỏa sức sáng tạo theo cách hiểu của mình.

*  Giáo viên không ngừng tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân

Chúng ta đều biết người thầy có vai trò đặc biệt quan trọng vì “ không thầy đố mày làm nên” và “thầy nào trò ấy” đã được đúc kết và kiểm nghiệm từ xưa tới nay. Nhà giáo được gọi là thầy học tức người thầy về việc học, là người dạy học trò cách học “Muốn có học sinh giỏi phải có thầy giỏi”. Muốn nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh phải bắt đầu từ chất lượng các giờ dạy của giáo viên. Kiến thức của giáo viên là yếu tố tiên quyết trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Vì vậy người giáo viên phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình. Nhận thức được điều đó nên tôi thường xuyên tự nhủ với mình rằng sẽ không được bằng lòng với chính mình, mà cần phải phấn đấu vươn lên, không ngừng trau dồi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân, cố gắng rèn cho mình tư tưởng “thắng không kiêu, bại không nản”. Học ở mọi nơi, mọi lúc, ở các phương tiện thông tin đại chúng, trong các tập san khoa học, ở bạn bè, đồng nghiệp...từ đó tôi đã tạo cho học sinh một niềm tin về kiến thức ở giáo viên.

Tôi còn mạnh dạn đăng kí tham dự các kì thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, cấp huyện, để được cọ sát, được giao lưu học hỏi, được khẳng định tay nghề của mình và có thêm kinh nghiệm trong việc truyền thụ kiến thức đến học sinh. Tôi luôn phấn đấu để trở thành một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo trong nghề dạy học mà mình đã lựa chọn.

 4.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến:

Nhằm đóng góp những kinh nghiệm của bản thân, qua thực tế giảng dạy ở trường THCS Phú Lạc. Bản thân tôi mạnh dạn đưa ra những biện pháp mà tôi đã tiến hành thể nghiệm trong năm học vừa qua (năm học 2019-2020), xin được mạnh dạn trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp để chúng ta cùng nhau tìm ra những giải pháp, đưa chất lượng dạy và học môn Lịch sử trong các trường trung học cơ sở không ngừng tăng lên.

Đây là sáng kiến được bản thân tôi thực hiện và đúc rút từ thực tiễn ở trường THCS Phú Lạc trong năm học 2019– 2020  đến nay nên có tính khả thi cao. Vì vậy tôi sẽ tiếp tục áp dụng và thực hiện tại trường THCS Phú Lạc, ở các trường THCS trong huyện, trong tỉnh, trong ngành giáo dục trong những năm học tiếp theo.

4.3. Tính khoa học và tính thực tiễn của sáng kiến:

Khi tổ chức dạy học theo các bước trên học sinh lĩnh hội kiến thức thông qua việc tìm tòi, khám phá, quan sát, đánh giá, nhận xét…Chính vì vậy, để dạy một tiết Toán mà các em yêu thích thì trước khi lên lớp, giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo về kế hoạch dạy học, các bước lên lớp, phương tiện dạy học…. Qua thực tế dạy học, tôi thấy khi áp dụng các bước dạy học trên vào giảng dạy môn Toán thì hiệu quả đem lại khá tốt.

Sáng kiến này giúp giáo viên có thể học hỏi, tích lũy kinh nghiệm trong dạy học, giúp học sinh nâng cao chất lượng học tập nên nó cũng mang lại những lợi ích kinh tế thiết thực như:

Khi chưa có định hướng rõ ràng trong bài dạy, sáng kiến sẽ giúp giảm bớt được thời gian tìm tòi phương pháp, cách thức tổ chức dạy học môn Toán, giảm thiểu được số tiền mua tài liệu tham khảo.

Việc áp dụng các giải pháp trong sáng kiến sẽ giúp các thầy cô giáo tự học tập, nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo trong việc dạy học và bồi dưỡng học sinh nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ năm học.

Tạo điều kiện giúp học sinh phát huy tinh thần tích cực chủ động học tập, tham gia lao động, hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt tập thể vui chơi giải trí và các hoạt động xã hội khác của cộng đồng. Tính năng động sáng tạo là những phẩm chất có ý nghĩa quan trọng đảm bảo cho sự thành đạt cho tương lai của mỗi học sinh trong xã hội luôn đổi mới hiện nay.

Giúp học sinh vượt qua được những khuân mẫu đã có sẵn tạo điều kiện cho các em tiếp cận được cái mới và từ đó có hy vọng giải phóng được tiềm năng, năng lực của học sinh.

 4.4. Tính mới của sáng kiến.  

Từ kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn, dưới góc độ lí luận dạy học, tôi đã đề ra một số biện pháp, tiến trình dạy học trong dạy học môn Toán ở trường THCS một cách cụ thể, phù hợp với đặc trưng bộ môn và tâm lí lứa tuổi học sinh. Tiến trình gồm các bước được tiến hành theo trình tự nhất định. Với tiến trình này sẽ góp phần quan trọng vào việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh. Các em thực sự hoạt động tích cực và đầy hứng thú. Nó giúp cho học sinh khả năng phát triển tư duy lôgic, trí tưởng tượng, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành và yêu thích bộ môn hơn.

5.  Những thông tin cần được bảo mật: Không

6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

  + Các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của các cấp về việc thực hiện nhiệm vụ năm học hàng năm( Hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá): Cần cụ thể, chi tiết, xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp thực hiện.

 + Về đội ngũ cán bộ giáo viên và học sinh: Đảm bảo về số lượng, chất lượng học sinh cần tham gia để đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo trước và sau khi triển khai sáng kiến.

+ Về tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học: Nhà trường cần quan tâm, cấp kinh phí, sửa chữa cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đảm bảo các điều kiện tối ưu cho công tác day và học để kết quả khi áp dụng sáng kiến được rõ nét.

- Sách giáo khoa Toán, các tài liệu toán học.

- Máy tính, máy chiếu, các nguồn tư liệu trên mạng Internet được giáo viên chọn lọc kĩ lưỡng phù hợp với nội dung bài học và đối tượng học sinh THCS.

 7. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:

  7.1. Theo ý kiến tác giả:

    * Trước khi triển khai sáng kiến:

        Trước khi vận dụng một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Toán trên tôi tiến hành làm một đợt khảo sát chất lượng lớp. Tôi lựa chọn lớp thực nghiệm là lớp 7A1, lớp đối chứng là lớp 7A3 để đánh giá chất lượng ban đầu các khối lớp, làm cơ sở để khảo sát thực nghiệm của sáng kiến. Nội dung khảo sát nhằm đánh giá khả năng nắm kiến thức của các em, kĩ năng vận dụng các kiến thức đã học để làm bài tập, hệ thống kiến thức, trả lời câu hỏi, vận dụng thực tế …

  * Sau khi triển khai sáng kiến: 

     Sau khi áp dụng các biện pháp trên, tôi thấy học sinh hứng thú say mê học hơn, các em tự giác học tập, nghiên cứu phát huy tính chuyên cần, chất lượng học tập nâng lên rõ rệt.

 

 

 

Chất lượng đại trà tôi đã thực hiện ở khối 7 như sau:

Tổng

số

 

              Kết quả cuối năm 2019-2020

Giỏi

Khá

TB

Yếu

Tổng từ TB trở lên

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

99

14

14,3

37

37,8

42

42,8

5

5,1

148

96,97(đầu năm đăng kí 94,7 vượt 2,27 so với đăng kí đầu năm)

 

    Kết quả trên cũng đã chứng minh được, sáng kiến của tôi đã đi đúng hướng chỉ đạo của nhà trường, của phòng Giáo dục và theo đúng tinh thần đổi mới mà Bộ Giáo dục đề ra.

7.2. Theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử:

Trong quá trình dạy học môn Toán tôi đã tham gia áp dụng sán kiến này đối với học sinh khối lớp 7 trường THCS nơi tôi đang giảng dạy.

Tôi mong rằng thư viện nhà trường có thêm nhiều sách nâng cao và tổng hợp kiến thức, hệ thống máy chiếu phục vụ tốt cho qúa trình giảng dạy môn Toán nói riêng và các bộ môn nói chung.

8. Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu:

8.1. Danh sách giáo viên đã áp dụng sáng kiến:

Stt

Họ và tên

Ngày tháng năm sinh

 

Hệ đào tạo

Nhiệm vụ được

 phân công

1

Lê Phương Thảo

     22/5/1991

Đại học

 Toán  7

2

Nguyễn Thị Hồng Vĩnh

     20/11/1978

Đại học

 Toán 6,7

 

      Trên đây là một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán ở nhà trường THCS trong dạy - học môn toán ở cấp THCS mà tôi đã áp dụng. Những giải pháp này chỉ  là của riêng cá nhân tôi nên không thể tránh khỏi thiếu sót và hạn chế. Tôi hy vọng sẽ nhận được sự đóng góp ý kiến từ bạn bè, đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường để tôi có thể tự hoàn thiện và nâng cao năng lực bản thân.

Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 6
Hôm qua : 67
Tháng 12 : 359
Năm 2021 : 14.502